Pages

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Được quyền tấn công khi thấy côn đồ gây án?

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm là một trong những quyền quan trọng nhất của con người được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Pháp luật hiện hành cho phép bất kỳ ai cũng có quyền chống trả lại (phòng vệ) một cách cần thiết đối với người đang có hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của mình hay của người khác.
Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về phòng vệ chính đáng như sau:
1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả  rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ những quy định của pháp luật được viễn dẫn ở trên, đối chiếu với trường hợp của bạn chúng tôi thấy rằng, trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền đánh lại những kẻ đang dùng hung khí gây án. Tuy nhiên pháp luật chỉ cho phép bạn chống trả lại một cách cần thiết để bảo vệ nạn nhân đang bị tấn công.
Để đánh giá việc chống trả của bạn có cần thiết hay không thì phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà kẻ côn đồ đang hướng tới, căn cứ vào sự quyết liệt gây án, hung khí gây án, thời gian, địa điểm gây án... Nếu kẻ tấn công dùng hung khí nguy hiểm, manh động, quyết liệt gây án thì bạn hoàn toàn có quyền dùng những biện pháp mạnh để ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội.

Có được xuất trình giấy tờ xe bản công chứng với cảnh sát giao thông?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân (Điều 1 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP bổ sung - và khoản 1 Điều 20 Luật Căn cước công dân 2014).
Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP quy định công dân được sử dụng chứng minh nhân dân của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát.
Khoản 3 Điều 20 Luật Căn cước công dân cũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin theo quy định.
Về giấy tờ xe, theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ, người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau đây (gọi chung là “giấy tờ xe”): đăng ký xe; giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe (trừ trường hợp không phải có giấy phép lái xe); giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới theo quy định; giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thì bản sao được chứng thực từ bản chính “có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Với quy định này, có thể hiểu rằng bản sao được chứng thực chỉ có giá trị thay thế bản chính trong các giao dịch dân sự thông thường. Trong quan hệ pháp luật hành chính Nhà nước như việc kiểm tra giấy tờ tùy thân, giấy tờ xe thì bản sao được chứng thực không đương nhiên dùng để thay thế bản chính; chưa kể trường hợp trong xử lý vi phạm hành chính, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền còn được phép giữ giấy tờ (giấy tờ xe) của người vi phạm.
Do vậy với quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng pháp luật và phân tích nêu trên, người dân khi ra đường cần phải mang bản chính giấy tờ tùy thân, giấy tờ xe và xuất trình bản chính các loại giấy tờ này khi có yêu cầu kiểm tra theo quy định. Bản sao có chứng thực của các loại giấy tờ này không có giá trị thay thế bản chính trong trường hợp này và nếu người bị kiểm tra không xuất trình được bản chính, có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.