Pages

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Mẹ chồng ngăn cản ly hôn vì sợ mang tiếng

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2015), khi mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu toà án giải quyết việc ly hôn. Việc có yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn hay không là do vợ, chồng quyết định.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật này, pháp luật nghiêm cấm hành vi cưỡng ép ly hôn cũng như cản trở người khác ly hôn. Hành vi cản trở ly hôn được hiểu là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.
Tùy theo hành vi và mức độ hậu quả đã gây ra, người có hành vi cản trở ly hôn có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 181 Bộ luật Hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2016) quy định về tội Cản trở ly hôn tự nguyện: Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.

Muốn tách con khỏi chồng để không nhiễm thói hư tật xấu

Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình 2015 quy định về việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:
“1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
b) Phá tán tài sản của con;
c) Có lối sống đồi trụy;
d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2. Căn cứ từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này”.
Bên cạnh đó, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình còn quy định:
“1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ…”.
Đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên với trường hợp của bạn, do chồng bạn có lối sống không lành mạnh, vướng vào nhiều tệ nạn xã hội nên bạn có thể yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha đối với con chưa thành niên. Tuy nhiên, để tòa án ban hành quyết định này, bạn sẽ phải chứng minh được đơn yêu cầu của mình là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.