Pages

Ads 468x60px

Featured Posts

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2017

7 băn khoăn từ vụ giảm án cho vợ bí thư đốt xác

Việc chuyển hình phạt vợ cựu bí thư xã đốt xác Lê Thị Hường từ tử hình xuống 20 năm tù dù đúng tinh thần khoan hồng của luật mới nhưng chưa đúng quy định của pháp luật.
Trong tuần qua, báo chí đồng loạt đưa tin nhờ áp dụng luật mới nên “nữ sát thủ” Lê Thị Hường (vợ nguyên Bí thư xã Kim Long, huyện Châu Đức, Bà Rịa - Vũng Tàu) được giảm án từ tử hình xuống còn 20 năm tù về tội Giết người (chưa đạt).
Dư luận băn khoăn không chỉ vì việc chuyển hình phạt này chưa đúng pháp luật mà còn bởi người ta thấy tính chất, mức độ phạm tội của vụ án từng gây rúng động xã hội như thế mà nay kẻ thủ ác lại chỉ chịu mức án 20 năm tù.
Không đúng trình tự
Việc chánh án TAND tối cao quyết định giảm án cho Lê Thị Hường xuống 20 năm tù là căn cứ vào khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 và điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016 ngày 29/6/2016 của Quốc hội.
Tuy nhiên, đối chiếu với quy định tại các điều khoản trên thì trường hợp của Lê Thị Hường không phù hợp.
Thứ nhất, tháng 3/2014, TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên án tử hình với bà Lê Thị Hường và bản án hình sự phúc thẩm ngày 8/7/2014 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã tuyên y án sơ thẩm. Ngày 11/7/2014, bà Lê Thị Hường có đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình và đang trong thời gian xem xét thì Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) 2015 mới được Quốc hội thông qua.
Thứ hai, bản án hình sự phúc thẩm cũng không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Vụ án đang được Chủ tịch nước xem xét đơn xin ân giảm án tử hình của Lê Thị Hường. Chánh án TAND tối cao đã căn cứ vào quy định có lợi cho người phạm tội để ra quyết định giảm án cho bị cáo Hường xuống 20 năm tù là không đúng trình tự.
Thứ ba, căn cứ vào hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm thì Lê Thị Hường không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 7, khoản 3 Điều 40 hay khoản 3 Điều 57 BLHS 2015. Bởi vì các điều luật này chỉ áp dụng đối với người phạm tội khi bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích…
7 ban khoan tu vu giam an cho vo bi thu dot xac hinh anh 1
Bà Lê Thị Hường đang nghe tòa sơ thẩm tuyên án tử hình. 
Luật chưa quy định trường hợp kết án tử
Thứ tư, nếu căn cứ vào quy định của BLHS 2015 thì trường hợp của bà Hường chỉ bị áp dụng hình phạt 20 năm tù. Nhưng BLHS 2015 cũng như BLTTHS 2015 không có quy định người bị kết án tử hình đang được Chủ tịch nước xem xét đơn xin ân giảm thì có được áp dụng không và nếu được thì thủ tục thế nào.
Thứ năm, theo khoản 3 Điều 1 Nghị quyết 144/2016 thì tiếp tục áp dụng BLHS 1999 và BLTTHS 2003 cho đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 2015 có hiệu lực thi hành. Cũng theo Nghị quyết 144/2016, kể từ ngày 1/7/2016 thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 109/2015 về việc thi hành BLHS; tiếp tục áp dụng khoản 2 Điều 1 và các quy định khác có lợi cho người phạm tội tại Nghị quyết 109/2015; áp dụng các quy định của BLTTHS 2015 để thi hành các quy định có lợi cho người phạm tội của BLHS 2015 và Nghị quyết 109/2015.
Như vậy, Lê Thị Hường bị kết án và bản án có hiệu lực pháp luật trước khi BLHS 2015 ban hành nên không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 40 hoặc khoản 3 Điều 57 BLHS 2015. Ở đây chỉ có thể nói trước khi bị thi hành án tử hình thì BLHS và BLTTHS có quy định theo hướng có lợi cho người bị kết án.
Thứ sáu, nếu căn cứ vào khoản 2 Điều 367 BLTTHS 2015 thì Lê Thị Hường cũng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của BLHS 2015. Giả thiết có thuộc trường hợp này thì chánh án TAND tối cao cũng chỉ chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho Lê Thị Hường chứ không thể chuyển từ tử hình xuống hình phạt 20 năm tù được.
Nên có tờ trình cho Chủ tịch nước
Thứ bảy, giả thiết sau khi chánh án TAND tối cao chuyển hình phạt tử hình xuống hình phạt 20 năm tù cho Lê Thị Hường mà Chủ tịch nước lại có quyết định bác đơn xin ân giảm (hoặc cho ân giảm từ tử hình xuống chung thân) cho bà Hường thì giải quyết ra sao?
Chính vì vậy, theo tôi, trong trường hợp này chánh án TAND tối cao và Viện trưởng VKSND tối cao cần trình với Chủ tịch nước xin rút lại tờ trình về việc xét đơn xin ân giảm án tử hình đối với Lê Thị Hường. Khi đó, hồ sơ vụ án trở lại TAND tối cao. Tiếp đó, Chánh án TAND tối cao mới xem xét cho Lê Thị Hường được hưởng các quy định của BLHS năm 2015.
Ngoài ra, Chánh án TAND tối cao cần xem xét, rút lại quyết định chuyển hình phạt từ tử hình xuống còn 20 năm tù đã ký mà báo chí đưa tin mới đây. Đồng thời, chánh án TAND Tối cao cần nghiên cứu hai phương án khắc phục mà TS Phan Anh Tuấn đã gợi ý hoặc khắc phục bằng phương án khác khả dĩ ít phức tạp mà vẫn đảm bảo đúng pháp luật.

Chủ quán cà phê điều hành 'động' mại dâm nam ở Sài Gòn

Các trinh sát bất ngờ ập vào một quán cà phê và khách sạn ở quận Gò Vấp bắt quả tang 2 cặp nam thanh niên đồng tính đang mua bán dâm.
Đội 6, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45), Công an TP.HCM đã bàn giao 23 người liên quan đến hành vi Mua bán dâm cho Công an quận Gò Vấp điều tra xử lý.
Chu quan ca phe dieu hanh 'dong' mai dam nam o Sai Gon hinh anh 1
Nam thanh niên bán dâm đồng tính bị cảnh sát phát hiện. Ảnh: V.T
Chiều 19/1, các trinh sát chia làm 2 mũi, bất ngờ ập vào một quán cà phê và một khách sạn ở quận Gò Vấp bắt quả tang 2 cặp nam thanh niên đồng tính đang mua bán dâm.
Những người đi kiếm tiền khai được Lê Hữu Thanh Trúc (36 tuổi, quê Bến Tre, chủ quán cà phê) giới thiệu đi khách với giá 500.000 đồng/lần. Trúc quy định tiền công môi giới anh ta sẽ được hưởng 100.000 - 150.000 đồng.
Theo các trinh sát, mỗi ngày người đàn ông này thu về thấp nhất khoảng 500.000 đồng. Đường dây của Trúc luôn có khoảng 5 - 10 thanh niên sẵn sàng bán dâm.
Trúc khai ổ mại dâm đồng tính trên hoạt động được gần 4 tháng.
Trước khi "động" mại dâm nam trên bị triệt phá, các trinh sát ghi nhận Trúc là chủ quán cà phê, đã tung ra những lời quảng cáo như nhân viên của anh ta có cơ bắp cuồn cuộn, biết làm tình...

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

Công ty có quyền giữ bằng tốt nghiệp gốc của nhân viên?

Tôi xin làm hành chính ở công ty tư vấn du học, ban đầu yêu cầu nộp bản sao có công chứng bằng tốt nghiệp đại học rồi đến bằng gốc.

Một tháng sau, tôi nói muốn lấy lại bằng gốc thì bộ phận nhân sự từ chối, nói sẽ đưa bản sao. Tôi muốn hỏi, công ty có quyền giữ bằng gốc của nhân viên hay không?
Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2012, những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động gồm:
1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.
2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.
Như vậy, việc công ty yêu cầu nộp và giữ bản chính bằng tốt nghiệp của người lao động là không đúng quy định. Bạn được quyền yêu cầu công ty phải giao trả bản chính bằng tốt nghiệp đã nộp.
Ngoài ra, theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 88/2015/NĐ-CP), người sử dụng lao động có một trong các hành vi giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Được quyền tấn công khi thấy côn đồ gây án?

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm là một trong những quyền quan trọng nhất của con người được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Pháp luật hiện hành cho phép bất kỳ ai cũng có quyền chống trả lại (phòng vệ) một cách cần thiết đối với người đang có hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của mình hay của người khác.
Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về phòng vệ chính đáng như sau:
1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả  rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ những quy định của pháp luật được viễn dẫn ở trên, đối chiếu với trường hợp của bạn chúng tôi thấy rằng, trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền đánh lại những kẻ đang dùng hung khí gây án. Tuy nhiên pháp luật chỉ cho phép bạn chống trả lại một cách cần thiết để bảo vệ nạn nhân đang bị tấn công.
Để đánh giá việc chống trả của bạn có cần thiết hay không thì phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà kẻ côn đồ đang hướng tới, căn cứ vào sự quyết liệt gây án, hung khí gây án, thời gian, địa điểm gây án... Nếu kẻ tấn công dùng hung khí nguy hiểm, manh động, quyết liệt gây án thì bạn hoàn toàn có quyền dùng những biện pháp mạnh để ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội.

Có được xuất trình giấy tờ xe bản công chứng với cảnh sát giao thông?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân (Điều 1 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP bổ sung - và khoản 1 Điều 20 Luật Căn cước công dân 2014).
Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP quy định công dân được sử dụng chứng minh nhân dân của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát.
Khoản 3 Điều 20 Luật Căn cước công dân cũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin theo quy định.
Về giấy tờ xe, theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ, người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau đây (gọi chung là “giấy tờ xe”): đăng ký xe; giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe (trừ trường hợp không phải có giấy phép lái xe); giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới theo quy định; giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thì bản sao được chứng thực từ bản chính “có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Với quy định này, có thể hiểu rằng bản sao được chứng thực chỉ có giá trị thay thế bản chính trong các giao dịch dân sự thông thường. Trong quan hệ pháp luật hành chính Nhà nước như việc kiểm tra giấy tờ tùy thân, giấy tờ xe thì bản sao được chứng thực không đương nhiên dùng để thay thế bản chính; chưa kể trường hợp trong xử lý vi phạm hành chính, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền còn được phép giữ giấy tờ (giấy tờ xe) của người vi phạm.
Do vậy với quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng pháp luật và phân tích nêu trên, người dân khi ra đường cần phải mang bản chính giấy tờ tùy thân, giấy tờ xe và xuất trình bản chính các loại giấy tờ này khi có yêu cầu kiểm tra theo quy định. Bản sao có chứng thực của các loại giấy tờ này không có giá trị thay thế bản chính trong trường hợp này và nếu người bị kiểm tra không xuất trình được bản chính, có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

Có thể bí mật ly hôn để người thân không phát hiện?

Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:
"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi".
Theo Điều 55 quy định về thuận tình ly hôn: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì tòa án giải quyết việc ly hôn”.
Đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên với trường hợp của bạn, do hai bạn đều tự nguyện ly hôn và không có tranh chấp gì về tài sản, con cái nên có thể làm đơn đề nghị tòa án cấp huyện nơi vợ chồng bạn đang cư trú công nhận thuận tình ly hôn. Tuy nhiên cần lưu ý, mặc dù hai bạn đã thỏa thuận được về tài sản cũng như việc nuôi con nhưng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì nếu con của bạn  đủ 7 tuổi trở lên Tòa án vẫn sẽ xem xét nguyện vọng của cháu bé là muốn ở cùng bố hay mẹ để quyết định trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng. 
Theo điều 313: Do việc ly hôn của hai bạn không có yếu tố tranh chấp về tài sản, con cái nên việc giải quyết ly hôn sẽ tiến hành theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Tòa án sẽ không mở phiên tòa xét xử mà chỉ mở phiên họp để giải quyết việc ly hôn. Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) quy định cụ thể như sau: 
“1. Toà án phải mở phiên họp công khai để giải quyết việc dân sự.
Sau khi ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, toà án phải gửi ngay quyết định này và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ. Hết thời hạn này, viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho toà án để mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
2. Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp phải tham dự phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp.
3. Người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của toà án…
4. Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được toà án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, toà án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp. Nếu có người vắng mặt thì toà án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp”.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự sẽ được mở công khai, thành phần tham gia phiên họp gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người có đơn yêu cầu (là vợ chồng bạn), những người có liên quan. Trong trường hợp cần thiết, toà án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Do đó, trong trường hợp việc giải quyết ly hôn của vợ chồng bạn không cần sự có mặt của người làm chứng, người có liên quan khác thì tòa án chỉ triệu tập vợ chồng bạn. Cũng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định có liên quan khác thì vợ chồng bạn không có nghĩa vụ phải thông báo về việc ly hôn cho bố mẹ, người thân biết.

Chiếu đèn laser, vô tình uy hiếp an toàn bay có phạm tội không?

Chiếu laser vào buồng lái máy bay là một việc làm vô cùng nguy hiểm, có thể gây tổn thương mắt của phi công, làm mất phương hướng, mất quyền kiểm soát tạm thời máy bay, uy hiếp nghiêm trọng an toàn hoạt động bay hàng không dân dụng, vi phạm các quy định về bảo đảm an ninh, an toàn hàng không dân dụng. 
Đối với trường hợp chiếu laser vào buồng lái khi máy bay đang cất hoặc hạ cánh tại sân bay, do chỉ mới xảy ra thời gian gần đây nên pháp luật chưa có quy định cụ thể cũng như chế tài xử phạt.
Tuy nhiên, theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 12 Luật Hàng không dân dụng năm 2011, việc chiếu laser vào buồng lái khi máy bay đang cất hoặc hạ cánh có thể coi là hành vi "đe dọa, uy hiếp an toàn bay, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác trong tàu bay”. Đây là một những hành vi bị cấm.
Trong trường hợp người hành vi chiếu laser vào buồng lái máy bay làm cản trở giao thông đường không và gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể, người thực hiện hành vi “cản trở giao thông đường không” có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội cản trở giao thông đường không” quy định tại Điều 217 Bộ luật hình sự mă 1999. Người vi phạm có thể bị  phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến 15 năm.
Trong trường hợp “Phạm tội có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nếu không được ngăn chặn kịp thời thì bị phạt tiền từ 5 triệu đến 20 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm.
Từ ngày 1/7, Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực pháp luật, Điều 278 quy định về “Tội cản trở giao thông đường không” đã tăng hình phạt tiền đối với hành vi phạm tội lên đến 100.000.000 đồng; tăng mức hình phạt cao nhất đối với tội này lên 20 năm tù. Riêng đối với trường hợp “Phạm tội có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời” vẫn giữ nguyên hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm nhưng tăng mức phạt tiền đến 50 triệu đồng.