Pages

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Người lao động nước ngoài được cư trú tại Việt Nam theo hình thức nào?

Người lao động nước ngoài có thể cư trú tại Việt Nam theo một trong các hình thức như tạm trú hoặc thường trú tùy theo từng điều kiện cụ thể.
 1. Tạm trú
Khi nhập cảnh vào Việt Nam, người nước ngoài được tạm trú tại Việt Nam theo thời hạn ghi trong thị thực. Trường hợp người nước ngoài được miễn thị thực theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì được tạm trú theo thời hạn quy định tại điều ước quốc tế đó; nếu điều ước quốc tế không quy định thời hạn tạm trú thì được tạm trú 30 ngày.
Đối với công dân của nước được Việt Nam đơn phương miễn thị thực thì thời hạn tạm trú là 15 ngày. Tuy nhiên, cần lưu ý thời hạn tạm trú có thể bị cơ quan quản lý xuất nhập cảnh hủy bỏ hoặc rút ngắn trong trường hợp người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam.
Khi làm việc tại Việt Nam, người nước ngoài phải có giấy phép lao động do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Sau khi được cấp giấy phép lao động, doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ đề nghị cấp thẻ tạm trú cho người lao động nước ngoài tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở. Thẻ tạm trú cấp cho người lao động nước ngoài có thời hạn tối đa là 2 năm.
Người lao động nước ngoài được cấp thẻ tạm trú được bảo lãnh ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con vào Việt Nam thăm; được bảo lãnh vợ, chồng, con dưới 18 tuổi ở cùng trong thời hạn thẻ tạm trú nếu được doanh nghiệp của người lao động đồng ý.
2. Thường trú
Người lao động nước ngoài có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp thẻ thường trú nếu có cha, mẹ, vợ, chồng, con là công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam bảo lãnh và đáp ứng các điều kiện: Có chỗ ở hợp pháp và có thu nhập ổn định bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam; đã tạm trú tại Việt Nam liên tục từ 3 năm trở lên.
Người lao động nước ngoài được cấp thẻ thường trú được phép cư trú không thời hạn tại Việt Nam. Khi tạm trú ngoài địa chỉ ghi trong thẻ thường trú, người lao động nước ngoài phải khai báo tạm trú theo quy định. Định kỳ 10 năm một lần, người lao động nước ngoài phải đến Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi thường trú để cấp đổi thẻ. Khi xuất cảnh đến thường trú ở nước khác, người lao động nước ngoài phải nộp lại thẻ thường trú cho đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu.
Người lao độngnước ngoài được cấp thẻ thường trú được bảo lãnh ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con vào Việt Nam thăm.
Ngoài ra, PLF cũng lưu ý người lao động nước ngoài khi tạm trú hoặc thường trú hợp pháp tại Việt Nam được miễn thị thực khi nhập cảnh vào Việt Nam; được đi lại trên lãnh thổ Việt Nam; được kết hợp du lịch, thăm người thân, chữa bệnh không phải xin phép.Trường hợp người lao động nước ngoài đi vào khu vực cấm hoặc khu vực hạn chế đi lại, cư trú thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Doanh nghiệp có bắt buộc thành lập công đoàn?

Công đoàn có vai trò quan trọng trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động và được pháp luật khuyến khích thành lập.
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội do người lao động Việt Nam thành lập trên cơ sở tự nguyện và được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
Công đoàn được thành lập tại doanh nghiệp là công đoàn cơ sở, được công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở công nhận theo quy định của pháp luật và Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở thì công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở có quyền và trách nhiệm đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động khi được người lao động ở đó yêu cầu. Khi công đoàn cơ sở được thành lập theo đúng quy định pháp luật thì doanh nghiệp phải thừa nhận và tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn cơ sở hoạt động.
Công đoàn thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên công đoàn, người lao động và thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật như: tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, nội quy lao động; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động;...
Theo quy định pháp luật, doanh nghiệp có trách nhiệm: Tạo điều kiện và hỗ trợ người lao động thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho công đoàn cấp trên cơ sở tuyên truyền, vận động phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, bố trí cán bộ công đoàn chuyên trách tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức.
 Doanh nghiệp cũng có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện để công đoàn cơ sở hoạt động. Ngoài ra khi người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được doanh nghiệp gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ.
Ngoài ra khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác, kỷ luật sa thải đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách thì phải thỏa thuận bằng văn bản với Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành cấp trên trực tiếp cơ sở.
Ngoài ra, các doanh nghiệp bị nghiêm cấm khi có các hành vi: cản trở, gây khó khăn cho việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động; ép buộc người lao động thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn, yêu cầu người lao động không tham gia hoặc rời khỏi tổ chức công đoàn, phân biệt đối xử về tiền lương, thời giờ làm việc và các quyền và nghĩa vụ khác trong quan hệ lao động nhằm cản trở việc thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn của người lao động.
Trường hợp vi phạm các quy định như nêu trên, tùy tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà doanh nghiệp có thể bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 15 triệu đồng.

Xử phạt ô tô đi sai làn đường thế nào?

Luật Giao thông đường bộ quy định người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Theo đó, khi người điều khiển ô tô đi vào làn đường dành cho xe gắn máy, xe thô sơ, tức là đã đi không đúng làn đường quy định và sẽ bị xử phạt theo quy định của Nghị định 171/2013/NĐ-CP (Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/1/2014).

Cụ thể tại Điểm c, Khoản 4, Điều 5 quy định phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô khi thực hiện hành vi vi phạm: “Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định”. Ngoài ra, với vi phạm này, theo Điểm b, Khoản 11, Điều 5, người điều khiển xe còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.

Như vậy, người điều khiển ô tô khi đi sai làn đường quy định sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng, đồng thời bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe trong 01 tháng.

Nhà đầu tư nước ngoài thành lập hiện diện thương mại theo hình thức nào?

Nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam theo các hình thức: hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp có vốn nước ngoài, chi nhánh và văn phòng đại diện.
1.  Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đối với doanh nghiệp nước ngoài nói riêng, hiện diện thương mại theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh sẽ không thành lập tổ chức kinh tế.Căn cứ theo Luật Đầu tư 2014, hình thức hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) là sự thỏa thuận giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài.
Theo đó các bên cùng kinh doanh, góp vốn, phân chia lợi nhuận và chịu rủi ro chung mà không thành lập một pháp nhân mới. Điều này sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức cho các nhà đầu tư.
Hình thức này cho phép các bên hoạt động với tư cách pháp lý độc lập, linh hoạt giải quyết các vấn đề, nhưng vẫn có thể hỗ trợ cho nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, vì không thành lập pháp nhân mới, PLF lưu ý các bên ký kết hợp đồng BCC cần thỏa thuận chặt chẽ về việc quản lý dự án, lựa chọn con dấu, quyền đại diện tham gia ký kết hợp đồng, v.v… để tránh những tranh chấp phát sinh trong quátrình hợp tác.
2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Tùy thuộc vào lĩnh vực ngành, nghề kinh doanh mà Nhà nước cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc bắt buộc liên doanh với thương nhân Việt Nam theo một tỷ lệ vốn góp nhất định.Trong trường hợp liên doanh, nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn, mua cổ phần hoặc phần vốn gópcủa một thương nhân Việt Nam theo tỷ lệ luật định và phù hợp với các điều ước quốc tế Việt Nam đã ký kết.
3. Chi nhánh và văn phòng đại diện
Hình thức thành lập hiện diện thương mại cuối cùng đó là các nhà đầu tư có thể thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam. Theo quy định tại Nghị định 72/2006/NĐ-CP, nhà đầu tư nước ngoài được pháp luật nước thương nhân đó thành lập hoặc đăng ký kinh doanh công nhận hợp pháp, sẽ được cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện nếu đã hoạt động không dưới 1 năm và được thành lập chi nhánh nếu đã hoạt động không dưới 5 năm.

Những tội danh được đề xuất bãi bỏ hình phạt tử hình

Theo một số ý kiến tại hội thảo “Một số định hướng cơ bản của dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi)” thì sẽ có 7 tội danh không bị áp dụng mức hình phạt cao nhất là tử hình.
Theo đó, những tội danh được đề xuất bỏ hình phạt tử hình bao gồm: Tội cướp tài sản; phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; chống mệnh lệnh; đầu hàng địch; phá hoạt hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh.
Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại hội thảo “Một số định hướng cơ bản của dự án Bộ luật hình sự (sửa đổi)” được Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức tại Hòa Bình ngày 24/3.
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng cho biết một trong những định hướng lớn nhất của dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) lần này là hạn chế phạm vi áp dụng hình phạt tử hình.
“Chỉ áp dụng hình phạt tử hình đối với một số ít trường hợp phạm các tội đặc biệt nghiêm trọng có tính chất dã man, tàn bạo, xâm phạm tính mạng của con người (như giết người dã man; giết người cướp của; giết người và hiếp dâm; giết người vì động cơ đê hèn...); đe dọa nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và sự phát triển giống nòi (một số tội phạm về ma túy)...” - ông Tụng nói.
Bên cạnh quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi như hiện nay, dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) bổ sung thêm đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người từ 70 tuổi trở lên.
Cũng tại cuộc hội thảo này, nhiều ý kiến tỏ ra đồng tình với đề xuất trên. Báo Dân trí dẫn lời ông Ông Nguyễn Tất Viễn - Thường trực Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương cho biết, Bộ luật Hình sự hiện hành có 22 tội danh quy định xử hình phạt tử hình, nếu bỏ đi 7 tội thì vẫn còn là quá cao.
“Tử hình là hình phạt tước đi quyền sống - quyền quan trọng nhất của con người nên việc kết án tử hình cũng đồng thời tước bỏ cơ hội tái hòa nhập cộng đồng và phục thiện, loại trừ khả năng khắc phục oan sai có thể xảy ra trên thực tế”- ông Viễn nói và cho rằng việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình là hết sức cần thiết.
Đồng tình với ông Viễn, Phó chánh án TAND Tối cao Nguyễn Sơn cho biết trong quá trình thảo luận, góp ý cho dự thảo bộ luật này đã có nhiều ý kiến cho rằng nên loại bỏ tử hình ở một số tội danh khác nữa.
Điều quan trọng nhất trong chính sách hình sự cần hướng, theo ông Độ, chính là hướng đến tính hướng thiện. Ông Độ ví dụ về vụ án buôn bán ma túy tại Quảng Ninh mới được đưa ra xét xử mới đây. Trung tướng Trần Văn Độ - nguyên Chánh án Tòa án quân sự Trung ương, nguyên Phó chánh án TAND Tối cao bày tỏ, nếu cho rằng phải trấn áp, xử phạt thật mạnh, thật nặng thì tội phạm mới giảm thì đó là quan điểm sai lầm.
“Nếu đúng theo quy định của pháp luật thì có thể 60 trường hợp bị áp dụng án tử hình, nhưng qua cân nhắc, tòa đã chỉ tuyên án tử đối với 30 trường hợp”- ông Độ nói.
Các đại biểu cũng đồng tình với việc giữ hình phạt tử hình đối với một số tội như tội Tham nhũng và tàng trữ, vận chuyển ma túy bởi việc buôn bán, vận chuyển chất ma túy bởi những tội danh này cần phải nghiêm trị và vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp nên cần phải có biện pháp xử lý nghiêm.