Pages

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

Công ty có quyền giữ bằng tốt nghiệp gốc của nhân viên?

Tôi xin làm hành chính ở công ty tư vấn du học, ban đầu yêu cầu nộp bản sao có công chứng bằng tốt nghiệp đại học rồi đến bằng gốc.

Một tháng sau, tôi nói muốn lấy lại bằng gốc thì bộ phận nhân sự từ chối, nói sẽ đưa bản sao. Tôi muốn hỏi, công ty có quyền giữ bằng gốc của nhân viên hay không?
Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Lao động năm 2012, những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động gồm:
1. Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.
2. Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.
Như vậy, việc công ty yêu cầu nộp và giữ bản chính bằng tốt nghiệp của người lao động là không đúng quy định. Bạn được quyền yêu cầu công ty phải giao trả bản chính bằng tốt nghiệp đã nộp.
Ngoài ra, theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 88/2015/NĐ-CP), người sử dụng lao động có một trong các hành vi giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

Được quyền tấn công khi thấy côn đồ gây án?

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm là một trong những quyền quan trọng nhất của con người được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Pháp luật hiện hành cho phép bất kỳ ai cũng có quyền chống trả lại (phòng vệ) một cách cần thiết đối với người đang có hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của mình hay của người khác.
Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về phòng vệ chính đáng như sau:
1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả  rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ những quy định của pháp luật được viễn dẫn ở trên, đối chiếu với trường hợp của bạn chúng tôi thấy rằng, trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền đánh lại những kẻ đang dùng hung khí gây án. Tuy nhiên pháp luật chỉ cho phép bạn chống trả lại một cách cần thiết để bảo vệ nạn nhân đang bị tấn công.
Để đánh giá việc chống trả của bạn có cần thiết hay không thì phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà kẻ côn đồ đang hướng tới, căn cứ vào sự quyết liệt gây án, hung khí gây án, thời gian, địa điểm gây án... Nếu kẻ tấn công dùng hung khí nguy hiểm, manh động, quyết liệt gây án thì bạn hoàn toàn có quyền dùng những biện pháp mạnh để ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội.

Có được xuất trình giấy tờ xe bản công chứng với cảnh sát giao thông?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của công dân (Điều 1 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP bổ sung - và khoản 1 Điều 20 Luật Căn cước công dân 2014).
Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 05/1999/NĐ-CP quy định công dân được sử dụng chứng minh nhân dân của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát.
Khoản 3 Điều 20 Luật Căn cước công dân cũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được yêu cầu công dân xuất trình thẻ Căn cước công dân để kiểm tra về căn cước và các thông tin theo quy định.
Về giấy tờ xe, theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Luật Giao thông đường bộ, người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau đây (gọi chung là “giấy tờ xe”): đăng ký xe; giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe (trừ trường hợp không phải có giấy phép lái xe); giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới theo quy định; giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch thì bản sao được chứng thực từ bản chính “có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Với quy định này, có thể hiểu rằng bản sao được chứng thực chỉ có giá trị thay thế bản chính trong các giao dịch dân sự thông thường. Trong quan hệ pháp luật hành chính Nhà nước như việc kiểm tra giấy tờ tùy thân, giấy tờ xe thì bản sao được chứng thực không đương nhiên dùng để thay thế bản chính; chưa kể trường hợp trong xử lý vi phạm hành chính, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền còn được phép giữ giấy tờ (giấy tờ xe) của người vi phạm.
Do vậy với quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng pháp luật và phân tích nêu trên, người dân khi ra đường cần phải mang bản chính giấy tờ tùy thân, giấy tờ xe và xuất trình bản chính các loại giấy tờ này khi có yêu cầu kiểm tra theo quy định. Bản sao có chứng thực của các loại giấy tờ này không có giá trị thay thế bản chính trong trường hợp này và nếu người bị kiểm tra không xuất trình được bản chính, có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

Có thể bí mật ly hôn để người thân không phát hiện?

Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:
"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi".
Theo Điều 55 quy định về thuận tình ly hôn: “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì tòa án giải quyết việc ly hôn”.
Đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên với trường hợp của bạn, do hai bạn đều tự nguyện ly hôn và không có tranh chấp gì về tài sản, con cái nên có thể làm đơn đề nghị tòa án cấp huyện nơi vợ chồng bạn đang cư trú công nhận thuận tình ly hôn. Tuy nhiên cần lưu ý, mặc dù hai bạn đã thỏa thuận được về tài sản cũng như việc nuôi con nhưng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì nếu con của bạn  đủ 7 tuổi trở lên Tòa án vẫn sẽ xem xét nguyện vọng của cháu bé là muốn ở cùng bố hay mẹ để quyết định trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng. 
Theo điều 313: Do việc ly hôn của hai bạn không có yếu tố tranh chấp về tài sản, con cái nên việc giải quyết ly hôn sẽ tiến hành theo thủ tục giải quyết việc dân sự. Tòa án sẽ không mở phiên tòa xét xử mà chỉ mở phiên họp để giải quyết việc ly hôn. Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011) quy định cụ thể như sau: 
“1. Toà án phải mở phiên họp công khai để giải quyết việc dân sự.
Sau khi ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, toà án phải gửi ngay quyết định này và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ. Hết thời hạn này, viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho toà án để mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
2. Kiểm sát viên viện kiểm sát cùng cấp phải tham dự phiên họp; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp.
3. Người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của toà án…
4. Người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được toà án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, toà án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp. Nếu có người vắng mặt thì toà án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp”.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự sẽ được mở công khai, thành phần tham gia phiên họp gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người có đơn yêu cầu (là vợ chồng bạn), những người có liên quan. Trong trường hợp cần thiết, toà án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Do đó, trong trường hợp việc giải quyết ly hôn của vợ chồng bạn không cần sự có mặt của người làm chứng, người có liên quan khác thì tòa án chỉ triệu tập vợ chồng bạn. Cũng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định có liên quan khác thì vợ chồng bạn không có nghĩa vụ phải thông báo về việc ly hôn cho bố mẹ, người thân biết.

Chiếu đèn laser, vô tình uy hiếp an toàn bay có phạm tội không?

Chiếu laser vào buồng lái máy bay là một việc làm vô cùng nguy hiểm, có thể gây tổn thương mắt của phi công, làm mất phương hướng, mất quyền kiểm soát tạm thời máy bay, uy hiếp nghiêm trọng an toàn hoạt động bay hàng không dân dụng, vi phạm các quy định về bảo đảm an ninh, an toàn hàng không dân dụng. 
Đối với trường hợp chiếu laser vào buồng lái khi máy bay đang cất hoặc hạ cánh tại sân bay, do chỉ mới xảy ra thời gian gần đây nên pháp luật chưa có quy định cụ thể cũng như chế tài xử phạt.
Tuy nhiên, theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 12 Luật Hàng không dân dụng năm 2011, việc chiếu laser vào buồng lái khi máy bay đang cất hoặc hạ cánh có thể coi là hành vi "đe dọa, uy hiếp an toàn bay, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác trong tàu bay”. Đây là một những hành vi bị cấm.
Trong trường hợp người hành vi chiếu laser vào buồng lái máy bay làm cản trở giao thông đường không và gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thì tùy từng trường hợp cụ thể, người thực hiện hành vi “cản trở giao thông đường không” có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội cản trở giao thông đường không” quy định tại Điều 217 Bộ luật hình sự mă 1999. Người vi phạm có thể bị  phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến 15 năm.
Trong trường hợp “Phạm tội có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, nếu không được ngăn chặn kịp thời thì bị phạt tiền từ 5 triệu đến 20 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm.
Từ ngày 1/7, Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực pháp luật, Điều 278 quy định về “Tội cản trở giao thông đường không” đã tăng hình phạt tiền đối với hành vi phạm tội lên đến 100.000.000 đồng; tăng mức hình phạt cao nhất đối với tội này lên 20 năm tù. Riêng đối với trường hợp “Phạm tội có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời” vẫn giữ nguyên hình phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm nhưng tăng mức phạt tiền đến 50 triệu đồng.

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2016

Công dân được chuyển bao nhiêu tiền ra nước ngoài?

Điều 7 Nghị định 70/2014/NĐ-CP hướng dẫn pháp lệnh ngoại hối quy định các trường hợp được chuyển tiền ra nước ngoài gồm:
"1. Người cư trú là tổ chức được thực hiện chuyển tiền một chiều ra nước ngoài để phục vụ mục đích tài trợ, viện trợ hoặc các mục đích khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Người cư trú là công dân Việt Nam được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các mục đích sau:
a) Học tập, chữa bệnh ở nước ngoài;
b) Đi công tác, du lịch, thăm viếng ở nước ngoài;
c) Trả các loại phí, lệ phí cho nước ngoài;
d) Trợ cấp cho thân nhân đang ở nước ngoài;
đ) Chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài;
e) Chuyển tiền trong trường hợp định cư ở nước ngoài;
g) Chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác".
Việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để đầu tư được quy định tại Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn như sau:
Theo Điều 64 Luật đầu tư, cá nhân đầu tư ra nước ngoài cần có:
1/ Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trừ trường hợp như để đàm phán hợp đồng, nghiên cứu thị trường, khảo sát thực địa... được quy định tại Điều 19 Nghị định 83/2015/NĐ-CP) 
2/  Được cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư chấp thuận hoặc cấp phép hoặc tài liệu có giá trị tương đương
3/ Có tài khoản vốn đầu tư. 
Về tài khoản vốn đầu tư, đây là tài khoản mở tại một tổ chức tín dụng được phép tại Việt Nam và phải đăng ký tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Khi đăng ký tài khoản này phải đăng ký cả tiến độ chuyển vốn. Mọi giao dịch chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam liên quan dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phải được thực hiện thông qua tài khoản này.
Đối với các trường hợp chuyển tiền ra nước ngoài để học tập, định cư, khám chữa bệnh, du lịch... thì thủ tục tương đối đơn giản. Công dân tham khảo Quyết định 676QĐ/TTG  ngày 15/6/2012 của Thủ tướng hoặc xem tại thủ tục tại bộ phận hướng dẫn của các ngân hàng. Ví dụ, để phục vụ mục đích học tập cần có: phiếu chuyển tiền, bản sao thông báo chi phí của cơ sở đào tạo, giáo dục ở nước ngoài... 
Về giới hạn chuyển tiền: Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể, có một số quy định nhưng chỉ là tăng cường kiểm soát thông qua thủ tục hành chính. Ví dụ, chuyển tiền ra nước ngoài để định cư được quy định 50.000 USD một năm; nếu trên 50.000 USD phải có tài liệu chứng minh. 

Công dân được chuyển bao nhiêu tiền ra nước ngoài?

Điều 7 Nghị định 70/2014/NĐ-CP hướng dẫn pháp lệnh ngoại hối quy định các trường hợp được chuyển tiền ra nước ngoài gồm:
"1. Người cư trú là tổ chức được thực hiện chuyển tiền một chiều ra nước ngoài để phục vụ mục đích tài trợ, viện trợ hoặc các mục đích khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Người cư trú là công dân Việt Nam được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các mục đích sau:
a) Học tập, chữa bệnh ở nước ngoài;
b) Đi công tác, du lịch, thăm viếng ở nước ngoài;
c) Trả các loại phí, lệ phí cho nước ngoài;
d) Trợ cấp cho thân nhân đang ở nước ngoài;
đ) Chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài;
e) Chuyển tiền trong trường hợp định cư ở nước ngoài;
g) Chuyển tiền một chiều cho các nhu cầu hợp pháp khác".
Việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để đầu tư được quy định tại Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn như sau:
Theo Điều 64 Luật đầu tư, cá nhân đầu tư ra nước ngoài cần có:
1/ Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trừ trường hợp như để đàm phán hợp đồng, nghiên cứu thị trường, khảo sát thực địa... được quy định tại Điều 19 Nghị định 83/2015/NĐ-CP) 
2/  Được cơ quan có thẩm quyền của nước tiếp nhận đầu tư chấp thuận hoặc cấp phép hoặc tài liệu có giá trị tương đương
3/ Có tài khoản vốn đầu tư. 
Về tài khoản vốn đầu tư, đây là tài khoản mở tại một tổ chức tín dụng được phép tại Việt Nam và phải đăng ký tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Khi đăng ký tài khoản này phải đăng ký cả tiến độ chuyển vốn. Mọi giao dịch chuyển ngoại tệ từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam liên quan dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phải được thực hiện thông qua tài khoản này.
Đối với các trường hợp chuyển tiền ra nước ngoài để học tập, định cư, khám chữa bệnh, du lịch... thì thủ tục tương đối đơn giản. Công dân tham khảo Quyết định 676QĐ/TTG  ngày 15/6/2012 của Thủ tướng hoặc xem tại thủ tục tại bộ phận hướng dẫn của các ngân hàng. Ví dụ, để phục vụ mục đích học tập cần có: phiếu chuyển tiền, bản sao thông báo chi phí của cơ sở đào tạo, giáo dục ở nước ngoài... 
Về giới hạn chuyển tiền: Pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể, có một số quy định nhưng chỉ là tăng cường kiểm soát thông qua thủ tục hành chính. Ví dụ, chuyển tiền ra nước ngoài để định cư được quy định 50.000 USD một năm; nếu trên 50.000 USD phải có tài liệu chứng minh. 

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Mẹ chồng ngăn cản ly hôn vì sợ mang tiếng

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2015), khi mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu toà án giải quyết việc ly hôn. Việc có yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn hay không là do vợ, chồng quyết định.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật này, pháp luật nghiêm cấm hành vi cưỡng ép ly hôn cũng như cản trở người khác ly hôn. Hành vi cản trở ly hôn được hiểu là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ.
Tùy theo hành vi và mức độ hậu quả đã gây ra, người có hành vi cản trở ly hôn có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 181 Bộ luật Hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2016) quy định về tội Cản trở ly hôn tự nguyện: Người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm.

Muốn tách con khỏi chồng để không nhiễm thói hư tật xấu

Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình 2015 quy định về việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:
“1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
b) Phá tán tài sản của con;
c) Có lối sống đồi trụy;
d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
2. Căn cứ từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này”.
Bên cạnh đó, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình còn quy định:
“1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:
a) Người thân thích;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ…”.
Đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên với trường hợp của bạn, do chồng bạn có lối sống không lành mạnh, vướng vào nhiều tệ nạn xã hội nên bạn có thể yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha đối với con chưa thành niên. Tuy nhiên, để tòa án ban hành quyết định này, bạn sẽ phải chứng minh được đơn yêu cầu của mình là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.